Thursday, December 29, 2011

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, Tiếng Kêu Khẩn Thiết Từ Ngôi Đền Thiêng-Lê Tùng Châu

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjO83aaH97e2WJprjbBzSeEJxvEXSdKsRVu4RjgMSBBHp1AHIF6qwaBysn3GITJBhKrUggxoTMkcluWsX5pULrldJSobqMG_q2kYpMg-gAboowc4FV69YzodJTt57bzbOfABUuQMMrO99I/s1600/NTBH_057_TT_DangXay.jpg
Tượng THƯƠNG TIẾC nơi lối vào nghĩa Trang
Ngôi Đền Thiêng
 
Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (*), nơi an nghỉ của gần 20.000 binh sĩ quốc gia miền Nam trong cuộc chiến tự vệ của VNCH 
trước sự xâm lăng của cộng sản miền Bắc sau Geneve 1954 cho đến 1975.
Đền Tử Sĩ lúc vừa hoàn thành
Tính đến nay, đã 36 năm trôi qua từ ngày miền Nam rơi vào tay Việt cộng, thực trạng Việt Nam trở nên điêu tàn thương đau trên toàn cõi khi đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng từ kinh tế đến đạo đức, luân lý ...không lối thoát; bất công ngày càng lớn, người dân Việt 2 miền bị trị bằng bạo lực phi nhân, Tự do, Nhân quyền tối thiểu đang bị xâm hại man rợ nhất trong sử Việt; nguy cơ bị Tàu cộng thôn tính ngày càng lộ rõ.
Quần chúng VN kể cả số đông đảo đảng viên cộng sản đã dần dà nhận ra rằng, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Bằng và Tự Do là những khát vọng chân chính mà chính quyền miền Nam đã theo đuổi trong cuộc chiến chống cộng sản độc tài tàn bạo trước kia, cũng là những giá trị cấp thiết hiện nay, nếu người Việt không phân biệt quá khứ, xuất thân, phe phái, lập trường…thành thật muốn tập hợp sức mạnh dân tộc để bảo vệ đất nước trước dã tâm xâm thực của Bắc Kinh, và tái thiết quốc gia đang trong tình trạng tàn phá nguy ngập bởi tà thuyết cộng sản, thành hùng mạnh, nhân bản, phú cường.

Thực tại tàn nhẫn được nhận ra muộn màng đó đã khiến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa giờ đây trở nên là một Ngôi Đền Thiêng của quốc gia VN.

TÓM LƯỢC

Nằm trên một ngọn đồi thấp thuộc quận Dĩ An tỉnh Biên Hòa, xung quanh là ruộng và đất trống (1965), cách Sài Gòn 22 km, bên trái nếu đi từ Saigon theo Xa Lộ Sài Gòn-Biên Hòa, Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa (Nghĩa Trang) được hình thành bởi nhu cầu có thực từ cuộc chiến tự vệ của miền Nam trước sự xâm lăng của Việt cộng ngày càng tăng cường độ kể từ 1965, qua các cuộc giao tranh, các binh sĩ quốc gia tử trận cần một nơi an nghỉ yên tịnh, trang nghiêm và cao ráo.

Công trình tổng thể Nghĩa Trang có hình con ong trên một diện tích ước chừng 125 hectares. Chi tiết gồm: Tượng Thương Tiếc (ở cổng vào bên cạnh xa lộ SG-BH) bởi Điêu Khắc Gia Đại Úy Nguyễn Thanh Thu; Đền Tử Sĩ (với Cổng Tam Quan tôn nghiêm và 7 tầng bậc cấp dẫn lên lối vào Đền); thẳng bước theo lối ra sau Đền là đến phần chính của Nghĩa Trang gồm Nghĩa Dũng Đài nằm nơi cao nhất đồi với Vành Khăn Tang vĩ đại bao quanh cây kiếm cụt ngọn (biểu tượng người chiến binh tử trận) bằng béton cốt sắt bởi Điêu Khắc Sư Lê Văn Mậu; chung quanh Nghĩa Dũng Đài là 8 Khu mộ tử sĩ đặt tên từ A tới I (không có Đ và F).

Công trình được thực hiện bởi Bộ Công Chánh Việt Nam Cộng Hòa phối hợp với Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ tổ chức thi tuyển họa đồ (design), và Ðại Ðội 541, Tiểu Ðoàn 54 Công Binh Kỹ Thuật trực tiếp xây dựng thực hiện.
Khởi công 1965, dự trù hoàn thành 19.6.1975 (ngày Quân Lực VNCH)
Tượng Thương Tiếc, Cổng Tam Quan, Đền Tử Sĩ đã hoàn tất trước năm 1970. Nghĩa Dũng Đài (và Vành Khăn Tang) sắp hoàn thành thì miền Nam thất thủ.

Theo các số liệu phổ biến (chưa thống nhất chính xác) thì cho đến 4-1975, số mộ phần tử sĩ là 16.000, cùng với mấy trăm di hài binh sĩ chuyển về Nhà Xác (Đại Đội Chung Sự) chưa kịp an táng. Số lớn di hài này đã bị toán lính VC chiếm lấy Nghĩa trang tháng 4/1975 cho chôn tập thể một cách tàn ác phía bên trái, cách Nhà Xác chừng 15, 20 met, và không cho đắp nấm đắp nấm, hiện vẫn còn tồn tại cho tới nay tuy đã bị lấp lên bởi 1 ngôi nhà của "trường Cao đẳng nghề" kế bên hông Nghĩa trang (Khu I)
SAU 1975
 
Phá Hoại và Hủy Báng
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjO83aaH97e2WJprjbBzSeEJxvEXSdKsRVu4RjgMSBBHp1AHIF6qwaBysn3GITJBhKrUggxoTMkcluWsX5pULrldJSobqMG_q2kYpMg-gAboowc4FV69YzodJTt57bzbOfABUuQMMrO99I/s1600/NTBH_057_TT_DangXay.jpg
Tượng THƯƠNG TIẾC nơi lối vào nghĩa Trang
 
Việc đầu tiên là VC cho giật sập Tượng Thương Tiếc, (một tuyệt tác nghệ thuật rất có hồn, đúc bằng đồng đen); sau đó là các hành vi trả thù người đã chết một cách tiểu nhân man rợ quái đản mà không một con người văn minh nào có thể tưởng tượng nổi: Dùng súng bắn thẳng vào mặt những tấm hình trên mộ bia, xô đổ, lấy buá đập tan nát bia mộ, tiểu tiện lên, mắng chửi, nguyền rủa mộ phần… bằng những ngôn từ của loài man rợ vô nhân tính! Nếu đi khắp hết 8 Khu mộ, ta có thể thấy số bia mộ (có gắn hình người đã khuất) bị đập phá, bể sứt, hoặc bị đục thẳng bằng búa bằng đinh vào mắt, mặt, đầu trên di ảnh người quá cố là một con số quá lớn có thể lên tới hơn 50%. Phải nói một cách kinh hãi rằng, cái chủ nghĩa mà tên tội đồ Hồ chí Minh đem về VN, gầy dựng, nhồi nhét vào đầu đàn em của y ta quả là nơi nuôi dưỡng cho hận thù kiên cố khủng khiếp nhứt trần gian, hơn cả phát xít Đức hay Nhật hay Staline: Trả Thù Người Đã Chết!!! (Đây là lúc mà các nhà Văn Học Sử hãy ghi nhận một dẫn liệu mới: chủ nghĩa cộng sản chính là thủ phạm đã hủy diệt truyền thống nhân ái của giống nòi Việt Nam , đã xóa bỏ câu: Nghĩa Tử là Nghĩa Tận: Người đã chết thì thôi không còn thù hận nữa!). Người cộng sản VN đã nghênh ngang cưỡng đoạt lẽ thị phi, dẫm lên tình nhân loại, tàn phá nền móng nhân bản của gia đình, quốc gia, xã hội bằng cách sát phạt thú tính, căm thù hoang tưởng vô minh tàn khốc nhất trong sử Việt bốn nghìn năm...!
Các bia mộ hoặc bị đập bể sứt hoặc bị hoặc bị đục thẳng bằng búa vào mắt, mặt, đầu trên di ảnh người quá cố
 
Sau đó, họ cầm tù Nghĩa Trang bằng cách “quân sự hóa”, cũng quái đản không kém, đó là đeo biển “khu quân sự, cấm chụp hình” cho một nơi chỉ có những mộ phần!!!

Từ đó, là một quá trình bỏ hoang điêu tàn thê lạnh kéo dài đến 15 năm sau vì thân nhân các anh hùng tử sĩ nằm tại đây, bị cấm không được vào tảo mộ, khói nhang chăm sóc…Các tấm gạch đúc lót sân, lối đi, và cả bên trong Đền Tử Sĩ bị cán bộ VC nạy lên mang về lót nền nhà!!! Ở đâu có đất hoang trơ ra là cỏ và cây dại tha hồ mọc lên chỉ sau một mùa mưa! Mà đằng đẵng mấy chục năm trời…

Trong thời gian “quân sự hóa” quái gở kia, hễ có thân nhân nào ai bất cứ khách lạ nào muốn vào chăm nom nhang khói cho tử sĩ, thì phải hối lộ, cách giản dị mà phổ biến nhất, cho các đơn vị bộ đội VC đóng ở đây.
Sau 1990, có nhiều tin được tung ra là hanoi sắp bán đất Nghĩa Trang cho tư bản châu Á, gây ra một nỗi hoang mang đau đớn cùng khắp, và khá nhiều thân nhân người quá cố tìm mọi cách đút lót cho bọn này để được bốc mộ. Số mộ đã được di dời khỏi Nghĩa Trang áng chừng 5, 6 ngàn. Nhưng theo thống kê từ các đồng đội tử sĩ còn sống và hiện vẫn đang âm thầm chăm sóc mộ, thì hiện số mộ còn lại xấp xỉ 18.000, nghĩa là số mộ thực có tại Nghĩa Trang là chừng 22.000, hoặc 23.000 cho tới 1975!Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệtMột thời gian quá dài bỏ hoang đã dần làm hư hoại, đổ nát các mộ phần và rêu phong, sụp lở các công trình chính của Nghĩa Trang. Nhưng thật kiên cố thay, hiện Cổng Tam Quan, Nghĩa Dũng Đài và Đền Tử Sĩ vẫn còn vững chắc và gần như nguyên vẹn! (Ta có thể nhanh chóng liên tưởng, so sánh phẩm chất của công trình Nghĩa Trang với các “công trình sáng xây chiều hỏng” của nhà nước cộng sản hanoi sau 1975 tới nay, mà gần nhất là “công trình Ngàn Năm Thăng Long” vô cùng tốn kém được tuyên truyền rầm rộ hồi năm ngoái!!! Sau “lễ hội” vài tuần, đã hư hỏng bể nát nham nhở…chắc chắn sẽ khó thể tồn tại quá 5 năm chứ đừng nói hằng 36 năm như Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa).

Từ trước 1975, đây là nơi thiêng liêng còn được dự trù sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia, nên xung quanh gần như là khu vực cấm cư trú, xây cất dân sự. Sau 75, VC đã tùy tiện xem Nghĩa Trang như thể là khu đất hoang chiếm được, nên họ đã cho xây "nhà máy nước Bình An” chắn giữa lối đi từ phía sau Đền Tử Sĩ vào lộ chính dẫn vào Nghĩa Trang. Chung quanh, các cán bộ VC, bộ đội dần dà chiếm đất và xây cất nhà ở, làm xưởng, lò gạch v.v…, một số mộ ở Khu B, D, G, I bị xâm phạm, phần đất nguyên thủy của các Khu này bị xâm chiếm biến dạng so với ban đầu.
Từ thiên nhiên đến con người thi nhau xâm thực thế mà lạ thay, Nghĩa Trang vẫn đứng vững, trừ vài biến dạng nhỏ như: bộ đội VC xây kín và lắp cửa cho nhà chính Đền Tử Sĩ khi còn ở đó; cắt cụt 16 met cây kiếm béton nằm giữa Vành Khăn Tang để làm vọng gác ở trên ngọn, rồi xây 1 nhà nhỏ bên dưới chân Nghĩa Dũng Đài (khoảng 2003) để ở và “quản lý” Nghĩa Trang, nơi mà giờ đây sau bao biến thiên của một hơn một phần ba thế kỷ chỉ còn là một bãi tha ma hoang lạnh.

Vậy thì họ quản lý cái gì ở đây?
Một Chính Sách Độc Ác và Hận Thù Dai Dẳng: Trồng cây
Họ không có cái gì ở đây để quản lý hết, chỉ trừ một mục đích: Cầm tù Nghĩa Trang, nghĩa là quân sự hóa cốt để cấm không cho thân nhân người chết tu sửa thăm nom hằng năm hằng tháng. Đó là cách độc ác thâm hiểm dùng thời gian lặng lẽ lạnh lùng để phá hủy dần cấu trúc quần thể các Khu mộ phần và các công trình chính yếu, những gì làm nên một Ngôi Đền Thiêng trong lòng người Việt Nam . Đó cũng là cách đê hèn của kẻ tự cho là “thắng trận” khi chủ mưu làm nhục kẻ “thua trận”, trong khi tất cả thực ra cũng là anh em một nhà Việt Nam da vàng máu đỏ, cùng một nỗi buồn nhược tiểu, bị đem thân làm bia đỡ đạn cho các cường quốc Tây Tàu xâu xé, vầy vò trong trò chơi lớn của họ!

Cuộc chiến “anh em” mà Trung cộng tiến hành “dạy cho VN một bài học” hồi 1979, nếu làm cho thế giới kinh ngạc, làm cho những người “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” vỡ mặt, đã làm cho tập đoàn bắc bộ phủ lồng lộn sôi máu khi Lê Duẩn cho ghi vào “hiến pháp” của chúng rằng: “Trung quốc là kẻ thù của VN”…thì lời giải của lịch sử đã hiện ra rất sớm 4 năm sau khi chiến tranh Nam Bắc VN kết thúc đấy thôi: đó là miền Nam quốc gia chẳng phải là kẻ thù của miền Bắc! chẳng có cái gì có thể gọi là “giải phóng miền Nam” ở đây cả, mà một thời đã là luận điệu dối lừa che đậy cho cái dã tâm ham danh đoạt quyền của bắc bộ phủ với đồng bào miền bắc cũng như với dư luận thế giới! Bao luận điệu nhồi sọ tuyên truyền của hanoi giờ đây đã phá sản.
Thế nhưng cái chất kịch độc từ cơn hoang tưởng thù hận anh em của họ vẫn còn chất ngất bám rịt vào não bộ của từng đảng viên, cán bộ cộng sản sau chiến tranh. Họ vẫn không dừng lại mà còn tiếp bước lún sâu vào con đường tội ác trong hàng loạt những “chính sách” quái ác đối với người dân Việt 2 miền, mà người miền Nam nhận ra rất sớm, bèn đông đảo bỏ nước ra đi vượt biển tìm tự do bằng mọi giá, và người miền Bắc phải chờ thêm vài chục năm…nhất là cho tới gần đây khi các cuộc biểu tình chống Tàu cộng (xâm lấn lãnh hải, bắt nạt, bắn giết tàu Petro VN hay tàu cá của ngư dân VN) nổ ra ở Hanoi và Saigon, mà hanoi liền thi hành không chút xấu hổ sự đàn áp thô bỉ và thù hận lên lớp người sống và lớn lên trong ruột cái thiên đường mù xã nghĩa của họ lâu nay, gọi những người biểu tình yêu nước là “phản động”, trong khi ôm hôn đặc sứ Tàu, ve vãn Tàu cộng với “16 chữ vàng”…thì bấy giờ lớp người này, đại diện cho “trí thức” miền Bắc mới thấy rõ đâu là sự thật!?
Tuy chậm nhưng cuối cùng Sự Thật cũng đã ló dạng. Ít nhất người dân Việt hôm nay cũng đã thống nhất với nhau một điều: miền Nam quốc gia, Việt Nam Cộng Hòa, là một chính thể tự do dân chủ mà mọi người VN đều muốn hướng tới sau 36 năm mê sảng trong mê cung nhồi sọ thiên đường mác lê của tập đoàn bắc bộ phủ!
Như thế, một cách hiển nhiên, lịch sử đã chỉ rõ, người lính cộng hòa ở miền Nam đâu phải là kẻ thù của miền bắc???!!!
Nhưng Sự Thật càng lộ dần ra sáng tỏ thì Nghĩa Trang càng bị chìm khuất!

Vì sao?

Trong suốt 27 năm đằng đẵng bị bỏ hoang, Nghĩa Trang chỉ còn phần chính yếu là 8 Khu mộ. Mỗi mùa mưa, cỏ mọc rậm thì đã có trâu bò thả rong vào gặm hoặc thân nhân phát dọn đốt sạch hằng mỗi dịp Tết đến hay Lễ Thanh Minh, do đó các phần mộ chỉ bị rêu phong hay nghiêng đổ (người thân bị cấm tu sửa tôn tạo) chứ không bị lu lấp, và người đi đường vẫn dễ dàng nhìn thấy.

Nghĩa Dũng Đài lúc còn chưa bị cắt cụt và chưa bị trồng cây quanh các Khu mộ phần-hình chụp Thanh Minh 2000
Năm 2002 khi “trung đoàn Gia định” tới cắt cụt ngọn Nghĩa Dũng Đài làm vọng gác và xây nhà nhỏ ở dưới chân, rồi dùng phần đất trống trong Nghĩa Trang để làm nơi tập luyện…thì cũng tự đây, họ, không rõ theo lệnh ai, đã bắt đầu một việc độc ác quái ác có chủ mưu, đó là trồng cây khắp Nghĩa Trang và kín khắp Đền Tử Sĩ.


2 năm sau (2002), Nghĩa Dũng Đài bị cắt cụt làm 1 vọng gác bên trên ngọn, và các cây trồng đã lác đác lớn lên quanh các Khu mộ.
Nên biết rằng, về thổ nhưỡng, khu đất được các Tướng lãnh VNCH khi xưa chọn làm Nghĩa Trang là một ngọn đồi đất đỏ với đá non, nhỏ. Cho nên về mặt dinh dưỡng, là loại đất chẳng phù hợp để trồng cây.
Vả lại, nếu ta so sánh với các “nghĩa trang liệt sĩ” của VC rải rác khắp nước từ bắc chí nam, thì trong nghĩa trang chẳng có trồng cây bao giờ. Các khu mộ, dù là dân sự hay quân đội…trên khắp thế giới, cũng không hề có nơi đâu lại trồng cây trong nghĩa trang!
Vì lẽ đây là không phải là đất trống, mà bên dưới mỗi diện tích kim tĩnh nhỏ bé 1m,2 x 2m,4 là di cốt của người quá cố. Các loại cây trồng, nhất là cây lấy gỗ hay cây rừng…sẽ có lớp rễ ăn sâu và rộng nếu đó là loại đất nghèo dinh dưỡng, do đó, theo thời gian, chúng sẽ xâm phạm tàn phá biến dạng hoàn toàn các mộ phần.
Thêm nữa, với tập tục Á Đông, người Việt mình tối kỵ mồ mả cha ông bị rễ cây đâm vào bởi tin rằng sẽ làm “đau đớn, khó chịu” linh hồn người chết và con cháu sẽ không thể sống yên hay làm ăn yên ổn được.
Năm 2006, khi Ng tấn Dũng “ký chuyển dân sự” Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa về tỉnh Bình Dương và gọi tên tự đặt mới là “nghĩa trang Bình An” thì người cộng sản đã bộc lộ rõ sự dùng dằng trì hoãn (trong việc lẽ ra phải xử sự một cách chính đáng) với câu Nghĩa Tử là Nghĩa Tận -tức là Người đã chết thì thôi không còn thù hận nữa- đối với Nghĩa Trang.
Năm 2007 ông Ng Cao Kỳ về VN, trong chuyến về này ông Kỳ có vận động hanoi tu sửa tôn tạo Nghĩa Trang nhưng họ không làm.
Năm 2004-2008 và sau đó, ông Vũ văn Lộc và IRCC, Inc. nhiều lần cố gắng bắt liên lạc và trực tiếp thương lượng với Hanoi với cùng mục đích, nhưng đề nghị tôn tạo Nghĩa Trang đã bị từ chối.
Cuối 2008, nhóm Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage trực tiếp về VN, công khai “làm đơn” tu bổ quy mô Nghĩa Trang thì bị “chuyền banh”: khi gặp phó chủ tịch Bình Dương thì bị chỉ về huyện Dĩ An. Về Dĩ An thì bị chỉ xuống Ban Quản Trang (một tốp chừng 6 nhân viên quèn coi cổng Nghĩa Trang). Tại đây họ lại bị chuyền lên tỉnh Bình Dương và sau rốt họ nhận được “mách miệng” của bà phó chủ tịch Dĩ An: “do trung ương chứ tụi tôi không có quyền”. Các giấy tờ đơn trương xin trùng tu Nghĩa Trang mà họ nộp lên bị “chơi cú lơ” 3 năm nay.
Tất cả chìm vào một im lặng rợn người như một nấm mồ!
Nhưng cây trồng thì không im lặng!
Từ đó đến nay, 2011, lượng cây mà bộ đội VC trồng hồi 2003 đã lớn dần (xin xem các hình dưới đây) đến nỗi giờ đây, người qua kẻ lại khó còn nhận ra Đền Tử Sĩ, và bên trong Nghĩa Trang, khắp các khu mộ, là một rừng cây muồng, cây sao và cây rừng hoang họ lá dầu, có cây đã cao mười mấy met và đường kính lên tới gần 30cm! Đó là không gian bên trên.
Còn bên dưới??? Người có chút quan sát, khi đi vào Nghĩa Trang ắt không thể không thấy lượng cây này đang biến Nghĩa Trang thành rừng, và đám rễ của cả rừng cây này đang âm thầm làm công việc phụ trợ cho mưu đồ độc ác, đó là tàn phá cấu trúc bên dưới của các phần mộ, nơi mà giờ đây đã 36 năm chấm dứt chiến tranh, chỉ còn là hài cốt của các anh hùng tử sĩ xưa! Họ đã và đang bị xâm hại một cách tàn nhẫn khủng khiếp sau khi từ giã cõi đời xấp xỉ 4 chục năm!

Khi trồng cây 8 năm trước đây, hẳn là Hanoi đã nghiễm nhiên bộc lộ không chút che dấu: đó là họ quá khinh miệt Nghĩa Trang của chúng ta! Họ coi Nghĩa Trang chỉ là một MIẾNG ĐẤT trống, trong khi đó lại là nơi an nghỉ ngàn thu thiêng liêng của gần 20.000 binh sĩ miền nam Việt Nam, và là Ngôi Đền Thiêng trong tâm tưởng bao người Việt Nam dù đang còn trong nước hay ở hải ngoại!

Càng đau đớn hơn cho tình dân tộc, nghĩa đồng bào, khi có tới mấy cái “nghĩa trang liệt sĩ Trung quốc” trên nước VN, ở Yên Báy, Quảng Ninh, Lạng Sơn…nơi chôn các binh lính Trung quốc chết khi Bắc Kinh xâm lăng VN hồi 1979 (Cao Bắc Lạng) và 1984 (núi An Lão, Hà Tuyên). Và tại những nghĩa trang của kẻ xâm lăng này, nhà nước hanoi lại cho tu sửa thăm nom trang trọng, và nhất là không hề có trồng bất cứ 1 loại cây muồng cây sao nào!!! Đọc những dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung quốc” trên những vòng hoa khi tới viếng những mộ này của quan chức đảng viên VC, người dân Việt chân chính nào mà không thấy nhức nhối căm phẫn khi nhìn thấy cái cách mà người cộng sản VN cư xử với anh em trong nhà qua âm mưu thâm độc tàn phá Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa bằng cách trồng cây như nói trên!!!

cỏ hoang lấn sát chân Đền Tử Sỹ, photo by TQGO
 

Đền Tử Sỹ từ cổng trước vào, Trung Thu 2011,  photo by TQGO
 

từ Đền Tử Sỹ nhìn ra cổng trước ngập trong cây muồng, sao và cỏ hoang, Trung Thu 2011,  photo by TQGO
 


Cột cờ và hương án trước khi vào Đền Tử Sỹ, nơi ngày trước Tổng Thống Thiệu đã hành lễ Ngày Quân Lực VNCH 19/6/1969 ở đây,
nay đã bị phá chỉ còn nền và 4 chân cột. Trung Thu 2011,  photo by TQGO
 

lối ra sau Đền Tử Sỹ ngập trong cây muồng, sao và cỏ hoang-Trung Thu 2011,  photo by TQGO
 

Đền Tử Sỹ nhìn từ ngoài, phía sau. Từ A (cổng trước) đến B (phía sau) là khuôn viên Đền Tử Sĩ.
Hanoi đã cố ý trồng cây muồng, cây sao chừng 6, 7 năm nay để che dấu cho người qua lại khó còn nhận ra di tích thiêng liêng này-Trung Thu 2011, 
photo by TQGO

lối ra sau Đền Tử Sỹ đã không còn dễ nhận ra nữa vì ngập trong cây muồng do bộ đội VC trồng-Trung Thu 2011,  photo by TQGO
nơi tôn nghiêm thiêng liêng xưa...
 


...
và bây giờ. Tường, cửa, cửa sổ...(trong khoảng mũi tên) là do bộ đội VC xây thêm để ở tạm sau 1975
sau khi đã phá sạch điện thờ Anh Hùng Tử Sĩ quốc gia. Ngày nay, là nơi trú tạm của ít thanh niên vô gia cư.
Chiếc bàn thờ, bình hoa, bát nhang là do các đồng đội của các anh bày tạm....chờ thời.-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 
 

Nghĩa Dũng Đài, (cao 36met, theo bản họa đồ vẽ tay hiện TQGO đang có) [*] bị cắt cụt gần 16met
để làm vọng gác trên ngọn-khoảng cuối 2002 đầu 2003, hiện chỉ còn chừng hơn 20met.
Một đơn vị lính bắc ("trung đoàn Gia Định" gì đó...) đã đóng ở đây từ 2003 cho tới tháng 7-2007
cả bọn đã rút đi và tháo dỡ vọng gác luôn -Trung Thu 2011, photo by TQGO
[*]: theo Tú Cao, Ðặc San Công Binh 1/1975, thì Trụ Ðài của Nghĩa Dũng Đài cao 43 mét kể từ mặt đất thiên nhiên

 

(bên trong căn nhà nhỏ bên trái, dưới chân Nghĩa Dũng Đài, là do bắc quân xây -khoảng 2003-
để ở lúc còn "quân sự" hóa Nghĩa Trang) Nhưng không ở được lâu-không rõ vì lí do gì-
cả bọn đã rút đi (tháng 7-2007) dù trong nhà vẫn còn dây, bóng đèn và các ổ cắm điện, quạt máy...
Vọng gác trên chóp cũng đã tháo dỡ khi rút đi). Trung Thu 2011, photo by TQGO
 


cả "bảng phân công trực" cũng còn nguyên - Trung Thu 2011, photo by TQGO
dưới chân Nghĩa Dũng Đài.-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 
từ Nghĩa Dũng Đài nhìn ra Khu E-Trung Thu 2011, photo by TQGO
Khu E ngập trong cây và cỏ-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 
Đây là rừng cây chớ nào có phải là Nghĩa Trang??!! (Khu H)-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 

Khu A, B cũng bị cây muồng, cây sao vây bủa dù thân nhân các anh hùng tử sĩ đã chặt dọn bớt khá nhiều
trong những lần tu sửa mộ phần-Trung Thu 2011, photo by TQGO 
 
Nghĩa Dũng Đài nhìn từ ngoài khu A vào-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 
Nghĩa Dũng Đài nhìn từ ngoài khu A vào-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 
khu B-Trung Thu 2011, photo by TQGO
 


khu B. Chú ý, các hàng cây muồng, cây sao, sản phẩm của sự độc ác mà người cộng sản bắc Việt
dành cho anh em trong nhà dù họ đã chết và chiến tranh đã kết thúc 36 năm-Trung Thu 2011, photo by TQGO.
Lời Kêu Khẩn Thiết
Sau một thời gian thu lượm thông tin lẫn thăm viếng thực địa, tôi viết bài ngắn gọn này nhằm kêu lên lời khẩn thiết: Nghĩa Trang đang lâm nguy! đồng thời cũng là Bản Tố Cáo Tội Ác thâm độc của VC đối với 20.000 anh linh người quá cố ba bốn chục năm trước!

Người Việt trong và ngoài nước hãy chung tay đoàn kết, có hành động thực tiễn nhanh nhất có thể, ngăn chận ngay sự xâm hại độc ác đang âm thầm diễn ra cho các anh linh tử sĩ quốc gia ở Nghĩa Trang.

Các hội đoàn VN ở hải ngoại hãy dẹp bỏ bất đồng nhỏ nhặt, nhìn vào thực tiễn nguy cấp hiện nay, hãy nhân cơ hội thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb đang chú mục tới Nghĩa Trang mà đoàn kết một lòng viết thư, trình bày rõ nội dung chủ yếu của Lời Kêu Khẩn Thiết này, vì có vẻ ông Webb không chú ý tới rừng cây sao đang ngày qua ngày âm thầm tán trợ cho sự thâm hiểm độc ác của hanoi.

Nếu được xin quý vị xung phong lập ngay một Ủy Ban Vận Động Trùng Tu Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, bắt tay vào hành động thực tế nhanh nhất có thể kẻo không còn kịp nữa!

Mục đích cần kíp là phải làm sao can thiệp ngay để cắt tận gốc các loại cây này, sau đó đổ hóa chất hoặc nước muối vào gốc cây đã cưa xong, vài năm sau chúng sẽ mục rã và thể nào lúc đó, chúng ta lại cũng rất cần làm công việc cán phẳng lại bề mặt đất Nghĩa Trang, vì khi đám rễ cây này mục rã thành mùn đất thì thể nào các tầng đất của Nghĩa Trang cũng sẽ bị biến dạng, sụt lún lở lói theo! Việc tôn tạo tu sửa mộ phần có thể xếp vào thứ yếu, làm tiếp theo sau cũng được. Vì từ trước tới nay, người người chỉ chú ý đến việc tu dưỡng bên trên mộ phần và bia, chứ không để ý tới bên dưới đang bị đám rễ cây xâm hại tàn phá vì tầm nhìn đã bị lớp đất bề mặt che khuất, không nhìn thấy mối nguy tiệm tiến theo năm tháng kia!!!

Nếu chúng ta cứ lơ là bỏ quên mối nguy này thì chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, Nghĩa Trang sẽ bị phá hỏng hết, lúc đó có nói gì làm gì thì cũng đã quá muộn!

Cúi đầu Cầu xin chư anh linh tử sĩ quốc gia phù hộ cho lời kêu cứu này được anh em quốc gia tiếp sức và có kết quả nhanh chóng!
Saigon, Oct. 6, 2011, viết trong nước mắt...Lê Tùng Châu

Nhớ Bến Sàigòn

Wednesday, December 28, 2011

Hồi ký -Tiểu đoàn 4 TQLC Kình Ngư vào những năm tháng sau cùng!


Hồi ký -Tiểu đoàn 4 TQLC Kình Ngư vào những năm tháng sau cùng!
Mũ xanh Phạm văn Tiền F/20
Khi nhắc tới Tiểu đoàn 4 TQLC là người ta nghĩ ngay đến trận đánh Bình Giã, cũng như Tiểu đoàn 5 gắn liền với trận Mộ Đức, Quảng Ngãi, và Tiểu đoàn 2 với trận phản phục kích tại quận Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Đây là những trận đánh lịch sử của QLVNCH. Toàn thể các vị Tiểu đoàn trưởng đều đã hy sinh cùng hầu hết các sĩ quan Tham mưu trong đơn vị.
Trận Bình Giã xảy ra vào những ngày cuối tháng 12-1964 khi khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vừa mới ra trường. Có 5 tân sĩ quan về đơn vị mới, thì 2 đã bị thương năng, và 2 tử trận. Đặc biệt sự hy sinh đáng tiếc của Thủ khoa Võ Thành Kháng và Niên trưởng Nguyễn Hùng là một mất mát vô cùng lớn lao cho QLVNCH, những người con yêu tổ quốc, đã được rèn luyện công phu suốt nhiều năm trời dưới mái trường Võ bị. Niên trưởng Trần Ngọc Tòan Đại đội trưởng khóa 16 Đà Lạt cũng đã bị thương rất nặng, thất lạc trong rừng sâu nhiều ngày và sự sống còn là điều rất may mắn, hy hữu.
Ngày xưa các thẩm quyền thường gọi Tiểu đoàn 4 là Tiểu đoàn Hoàng-Gia, trong những lúc trà dư tửu hậu.Tuy đây chỉ là lời nói đùa nhưng nhìn chung thì cũng có phần hữu lý, vì đơn vị nầy đã từng được chỉ huy bởi các Đại bàng Lạng Sơn và Tango, 2 vị Trưởng và Phó Tư Lệnh Sư Đoàn. Phần đông các sĩ quan chỉ huy xuất sắc, nòng cốt trong Binh chủng cũng đã xuất thân từ Tiểu đoàn nầy. Nhắc lại chuyện xưa chẳng qua là dip để nhớ lại những kỷ niệm của một thời để thương và để nhớ, một giai đoạn lịch sử vàng son nhất của người lính Mũ xanh sát Cộng QLVNCH.
Vào những ngày tháng Ba buồn thảm hàng năm, để tưởng nhớ tất cả các chiến sĩ QLVNCH thuộc mọi Binh Chủng đã nằm xuống một cách thật oan uổng, trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tại bờ Nam cửa biển Thuận An, đặc biệt nhất là các chiến hữu Mũ xanh Kình Ngư Tiểu đoàn 4 TQLC.
Người viết xin ghi lại những ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình ở đơn vị Tiểu đoàn 4 nầy, dù chỉ có duyên phục vụ vỏn vẹn 2 năm trời, nhưng những tình cảm thân quý của người lính Mũ xanh Kình Ngư mãi mãi là những kỷ niệm tốt đẹp nhất trong đời mình bằng một thứ tình “Huynh đệ chi binh” trân trọng, quý hiếm.
Từ một tên Thiếu úy “sữa” mới ra trường đến khi đảm trách chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 TQLC, được thăng cấp Thiếu tá vào năm 1972 trong trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị, tôi có lẽ là người may mắn nhất chưa một lần bị thương nặng phải vào ra bệnh viện, mặc dầu đã có mặt hầu như đầy đủ trong các cuộc hành quân, chỉ trừ hơn nửa năm vắng mặt theo học khóa Basic School tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1969.
Sau trận đánh Cổ thành Quảng Trị, Sư đoàn TQLC lại phải vô cùng vất vả, còn phải hy sinh biết bao xương máu nữa, để tiếp tục chiếm lại những vùng đất bị mất vào tay giặc vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Cánh B Tiểu đoàn 2 do tôi đảm trách gồm Đại đội 2 của Đại úy Từ Đức Thọ và Đại đội 5 của Đại uý Huỳnh văn Trọn phải chiến đấu ngày đêm, giành giật từng tấc đất với kẻ thù trên mặt trận vùng phía Bắc Chợ Cạn. Với địa thế toàn những đồi cát trắng trống trải, không thuận lợi cho việc tiến quân, cùng những cơn gió rét lạnh cắt da đã làm chậm bước tiến quân rất nhiều. Đơn vị đã bị tổn thất khá nặng, số binh sĩ bổ sung không bằng số thương binh hao hụt mỗi ngày. Thượng cấp biết được tình hình nên đã điều động Tiểu đoàn 5 TQLC thay thế. Niên trưởng Thiếu tá Trần Vệ Tiểu đoàn phó, người thay thế tôi cũng đã bị thương nặng trong chuyến đổi quân nầy.
Tiểu đoàn 2 chúng tôi được lui về phía sau để nghỉ dưỡng quân và tái trang bị, phòng thủ bảo vệ Bộ chỉ huy Lữ đoàn 147 tại đồi cát “Hội Yên”. Vào một buổi trưa trời không nắng, tôi nhận được lệnh trình diện Đại bàng Lạng Sơn, lý do sẽ cho biết sau.Tôi được thông báo là sẽ thuyên chuyển về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 4 thay thế Đại úy Trịnh Hữu Phước, còn Trung tá Nguyễn Đằng Tống thay Trung tá Trần Xuân Quang trong chức vụ Tiểu đòan trưởng, Thiếu tá Nguyễn Phúc Định từ Tiểu đoàn Sói biển cũng được điều động về làm Trưởng ban 3 thay Trung úy Trần Kim Tài, Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy kiêm nhiệm.
Một thoáng bất ngờ cộng thêm một ít buồn man mát trong lòng. Nhưng dầu sao đây cũng là một cái lệnh mà vị Tư lệnh muốn dặn dò đặc biệt cho tôi, thay vì chỉ cần ban ra một quyết định để thi hành. Cá nhân tôi đã có quá nhiều chuyện buồn nơi đơn vị cũ và việc ra đi lúc nầy cũng là môt cơ hội tốt.. Nhưng làm sao tôi không khỏi đau lòng khi phải rời xa đơn vị thân yêu mà mình đã từng phục vụ trong suốt hơn sáu năm trời. Tôi nhớ những người lính còn lại rất ít ỏi của tôi trong trung đội đầu đời, thương những thuộc cấp của Đại đội 5 mà tôi là người Đại đội trưởng đầu tiên kể từ ngày thành lập. Rồi đây tôi sẽ phải nói lời chia tay với họ, nhất là những chiến hữu thuộc Bộ chỉ huy cánh B, những người đã cùng tôi luôn chịu thiệt thòi khổ sở nhất, hy sinh rất nhiều nhưng quyền lợi thì chẳng được bao nhiêu.Thật sư là tôi đã không cầm được nước mắt khi hấp tấp nói lời chia tay với họ, nhưng dầu sao đây là cái lệnh phải thi hành.
Tôi nhớ mãi, đó là cái buổi chiều buồn mây đen xám xịt cuối tháng 11-1972. Bầu trời âm u, cùng những cơn mưa dầm tầm tã, trên chiếc thiết vận xa M 113 do người tài xế lái còn có thêm Hạ sĩ 1 Lê Hồng Quảng Nam, người đã cùng tôi khổ cực, sống chết thủy chung suốt nhiều năm trời, đây là món quà đặc biệt mà thương cấp đã ưu ái dành cho tôi được mang theo trong chuyến đi nầy.
Trung tá Tống đã đón tôi tại Bộ chỉ huy Tiểu đoàn vào lúc trời nhá nhem tối. Trên các tuyến đầu lửa đạn các đơn vị vẫn còn đang giao tranh, tiếng gầm thét của phi cơ cùng đủ loại pháo binh địch, ta rơi rớt khắp đó đây. Trong căn lều vải nằm ven biển sóng vỗ rì rào, có quá nhiều thương binh từ các đại đôị tuyến trên đưa về. Những y tá và các người lính Đại đội chỉ huy đang bận rộn băng bó và di tản họ về lại tuyến sau. Qua hệ thống liên lạc truyền tin các Đại đội vẫn còn đang bị đè nặng dưới áp lực của địch, binh sĩ luôn giữ chặt tay súng chiến đấu dưới các giao thông hào.
Những người lính Kình Ngư rất vui mừng đón tiếp chúng tôi như người thân thuộc xa cách nhiều năm nay mới trở về. Họ niềm nở lo cho tôi chỗ ăn, chỗ ngủ. Dĩa cơm gạo sấy cùng một ít nước còn lại trong chiếc bidong chiều hôm đó quả đã làm tôi cảm thấy ấm lòng. Những ám danh đàm thoại khác lạ nhưng rất thân thiện, êm tai mà tôi chưa từng được nghe ở đâu bao giờ. Bạch Yến, Sao Mai, những danh xưng đặc biệt chỉ dành cho Tiểu đoàn phó, và các vị Đại đội trưởng không rõ xuất xứ từ bao giờ nhưng đã được mọi cấp quen thuộc sử dụng hàng ngày.
Đại đội 1 do Trung uý Huỳnh văn Xuân xử lý thường vụ, là đơn vị bị tổn thất nhiều nhất thì đang bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Đại đội 2 do Đại uý Ngô hữu Đức chỉ huy, người giàu kinh nghiệm và thâm niên nhất. Đại đội 3 Trung uý Mai văn Hiếu, Đại đội 4 Trung úy Dương tấn Tước làm Đại đội trưởng. Cả 2 anh đều xuất thân cùng một khóa nên rất thân tình, hết lòng thương yêu thuộc cấp và gắn bó giúp đỡ lẫn nhau. Chúng tôi rất dễ cảm thông vì cùng xuất thân từ một quân trường “Mẹ”. Đại đội chỉ huy do Trung úy Trần Kim Tài đảm trách, rất nghiêm nghị nhưng rất hết lòng với mọi công tác được giao phó.
Trước khi về đơn vị mới nầy, tôi được báo trước những gì đã xảy ra qua lời dặn dò của vị Tư lệnh Sư đoàn. Tiểu đoàn vừa thất bại trong một cuộc lui binh làm mất đi một số chiến xa tăng phái của Thiết đoàn 17 từ vài ngày trước. Binh sĩ đã bị mất tinh thần rất nhiều, và sự có mặt của tôi và Trung tá Tống cũng không ngoài mục đích và lý do nầy.
Chúng tôi đã đến thăm từng vị trí chiến hào vào sáng ngày hôm sau khi đến đơn vị. Địch vẫn còn bám ta rất sát, rất nguy hiểm khi phải di chuyển băng qua những đồi cát trống, nơi địch đang rình rập kiểm soát sự chuyển quân của ta.
Biết được ý của địch thế nào cũng thừa thắng xông lên, nên thượng cấp đã đặc biệt lưu ý chúng tôi là lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác. Chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ với các đơn vị trưởng về những tình huống xấu rồi sẽ xảy ra, thiết lập một kế hoạch để sẵn sàng đối phó. Hệ thống phòng thủ phải tu bổ lại vững chắc, tăng cường thêm nhiều bao cát nơi các ổ súng cộng đồng Đạn dược, nhất là lựu đạn và mìn Claymore phải được tận dụng tối đa quanh tuyến phòng thủ. Thiết lập thêm nhiều hỏa tập pháo binh tiên liệu để khi cần tác xạ ngay đúng lúc.
Đúng như tiên đoán, địch đã điều động nguyên cả Trung đoàn tấn công sau đó một tuần. Nhờ sự yểm trợ của các Pháo đội cơ hữu, binh sĩ lên tinh thần chiến đấu suốt đêm đã đẩy lui nhiều đợt xung phong của địch. Cuối cùng chúng bị thảm hại và phải rút quân trước khi trời sáng, để lại gần 30 xác cùng nhiều vũ khí đủ loại trong vòng đai phòng thủ. Thừa thắng xông lên, quân ta đã chiếm lại vùng đất và các chiến xa bị mất vào hôm trước.
Tiểu đoàn 4 TQLC đã có được một chiến thắng phục thù. Thiếu tướng Tư lệnh đã đến thăm ngợi khen binh sĩ tại chiến trường, và ra lệnh cho đơn vị về phía sau nghỉ dưỡng quân và tái trang bị.
Đã có nhiều thay đổi nhân sự trong thời gian nầy. Đại úy Dương công Phó từ Tiểu đoàn 5 về thay thế Trung úy Xuân chức vụ Đại đội trưởng đại đội 1, sau khi mãn khóa học Đại đội trưởng tại trường Bộ binh Thủ Đức. Đại úy Nguyễn Tri Nam từ Trung tâm huấn luyện TQLC ra thay Thiếu tá Nguyễn Phúc Định về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8, trong chức vụ Trưởng ban 3. Nam cũng vừa học xong khóa Basic School TQLC từ Mỹ trở về. Là một sĩ quan tham mưu xuất sắc, thông minh nhanh nhẹn, tánh tình hoà nhã với mọi người, rất siêng năng và hết lòng thương yêu thuộc cấp. Anh chưa bao giờ làm Đại đội trưởng tác chiến, nhưng lại là người được thăng cấp Thiếu tá và đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn phó đầu tiên của khóa 22 A Võ bị trong Sư đoàn.

Một tháng sau đó đơn vị lại có lệnh lên đường chuẩn bị cho một cuộc hành quân mới. Hành quân tiến chiếm lại Cửa Việt trước ngày hiệp định Paris về cuộc chiến Việt Nam có hiệu lực Một lực lượng Đặc nhiệm Tango cấp thời được thành lập do Đại tá Tư lệnh phó chỉ huy, cộng thêm Thiết đoàn 20 chiến xa tăng phái. Đây là một cuộc hành quân thần tốc “Nhị thức bộ binh thiết giáp”.Tiểu đoàn 4 là lưc lương xung kích chính, sau nầy được tăng viện thêm 2 Đại đội của Tiểu đoàn 2. Các lưc lượng tiến chiếm đã hoàn tất công tác được giao phó trước giờ ngưng bắn 2 phút. Nhưng sau đó vì sự lật lọng gian manh của địch, chúng ta đành phải rời bỏ vị trí mà ta chiếm được, sau 3 ngày đêm nằm chịu trận mà không có bất cứ một sự yểm trợ nào. Sự tổn thất của các đơn vị tham chiến lần nầy quá lớn lao về nhân sự cũng như vũ khí bỏ lại tại chiến trường.
Đầu tháng 10 năm 1973, Trung tá Nguyễn Đằng Tống được lệnh về làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 với Trung tá Đỗ Hữu Tùng Lữ đoàn trưởng. Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vừa về nước tháng 8-1973, sau khi mãn khóa học Chỉ huy và Tham mưu TQLC Hoa kỳ được thượng cấp chỉ định thay thế. Đây là đơn vị đầu đời của Niên trưởng từ khi mới ra trường, cá nhân tôi vẫn làm phó Tiểu đoàn 4 TQLC nầy cho đến giữa tháng 1-1975, được bổ nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC, Đại úy Nguyễn Tri Nam vừa được thăng cấp Thiếu tá thay thế tôi chức vụ nầy.


Hình ảnh một sĩ quan TQLC/QLVNCH
Thời gian sau nầy có nhiều thay đổi nhân sự trong Tiểu đoàn, Đại úy Ngô Hữu Đức được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 7 TQLC, Trung úy Tô Thanh Chiêu cũng từ Tiểu đoàn 5 về thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2. Chiêu có người anh ruột là Dân biểu VNCH, nhưng anh lại là người thích ở đơn vị đấm đá.. Nước da ngăm đen, da mặt sần sùi, trông thật dữ tợn, nơi bàn tay phải chỉ còn 4 ngón không ai rõ nguyên do, nhưng thật sự anh lại là người hiền nhất và rất có uy với thuộc cấp. Thẳng thắn và hay chọc quê “tếu”với bạn bè, giọng cười hô hố đặc biệt, không đẹp trai, nhưng lại có duyên ngầm. Người yêu của anh là một cô gái rất đẹp, con một chủ quán giàu có ở bãi trước Vũng Tàu.
Đại úy Dương Công Phó cũng được về học khóa Bộ binh cao cấp. Sau nầy, anh là Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 18 tân lập. Trung úy Trần Kim Tài vừa thăng cấp Đại úy thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 1. Trung úy Dương Tấn Tước, vị sĩ quan độc thân suốt đời, yêu lính hơn yêu chính bản thân mình, vừa được thăng cấp Đại úy có lệnh thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng Đại đội Viễn Thám “A”, Trung úy Võ văn Gắt Đại đội phó thay chức vụ Đại đội trưởng đại đội 4.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường vào những ngày đầu tháng ba 1975, Bộ Tổng tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều động phần lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các Lữ đòan 258, 369. Chỉ còn lại Lữ đoàn 147 do Đại tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy, gồm các Tiểu đoàn 3,4,5,7, 2 Pháo binh cùng Đại đội Viễn thám của Đại úy Nguyễn tấn Lực. Thay vào đó, là 2 Liên đoàn Biệt Động Quân với trang bị và quân số thiếu hụt. Đây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngõ sau nầy ở mặt trận Bắc Quảng Trị.
Mãi cho đến chiều tối ngày 8-3-1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào Trung đội tiền đồn tại đồi 51 căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây quốc lộ 1, cây số 23 vùng Cổ Bi, Hiền Sĩ. Đơn vị được chỉ huy bởi Thiếu úy Nguyễn văn Sáng Đại đội phó Đại đội 2, đã chiến đấu chống trả can trường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch. Lần liên lạc sau cùng qua hệ thống vô tuyến, anh yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí phòng thủ đã bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù.
Sáng sớm ngày hôm sau, Thiếu tá Trần Ngọc Toàn điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A 37 thuộc không lực Vùng 1 chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, hơn 20 tên bị ta bắt sống ẩn trú trong các bụi rậm. Đây là trận đánh lớn nhất và sau cùng của đơn vị TQLC vào những ngày cuối cùng tại mặt trận Quảng Trị. Mặc dầu thời gian nầy, cá nhân tôi đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC rồi, nhưng vì 2 đơn vị phòng thủ liên quan với nhau trên chạm tuyến, qua hệ thống liên lạc hàng ngang, nên tôi nắm rất rõ tình hình.
Lữ đoàn 468 cũng cấp tốc được thành lập với các Tiểu đoàn tân lập 14-16-18. Đại úy Mai văn Hiếu cùng toàn thể Đại đội của anh thuyên chuyển về Tiểu đoàn tân lập 16, Trung úy Hồng Minh So Đại đội phó thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2. Trung úy Huỳnh văn Xuân lại về làm Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy. Chiêu cũng vừa thăng cấp Đại úy sang làm Đại đội trưởng Đại đội 3. Đại úy Nguyễn Minh Trí từ Tiểu đoàn 9 Mãnh hổ cũng được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 trong thời gian nầy.
Thiếu tá Niên trưởng Đinh Long Thành được lệnh bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 với Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vào ngày 20-3-1975 trong sự thiếu chuẩn bị, hấp tấp vội vàng. Không đủ thời gian nắm rõ được tình hình đơn vị, mọi việc điều hành chỉ trông cậy vào Tiểu đoàn phó Nguyễn Tri Nam và các vị Đại đội trưởng.
Nam và Chiêu là hai người thân nhất và có quá nhiều kỷ niệm với tôi. Nhưng số phận đã không may xảy đến cho họ vào buổi chiều ngày 24-3-75 khi các anh đang điều động binh sĩ rải tuyến đóng quân. Cả 2 đều đã hy sinh trong những giờ phút sau cùng bằng loạt đạn bắn tỉa của tên du kích. Đây là một thiệt hại vô cùng to lớn và là nguyên nhân dẫn đến sự tan hàng quá sớm của Tiểu đòan 4 vào những ngày cuối cùng tại bãi biển Thuận An. Vì mất hệ thống chỉ huy, các Đại đội chỉ còn cách tự lo liệu lấy thân, nên Trung úy Hồng Minh So đã dẫn nguyên Đại đội 2 của mình lên tàu vào sáng ngày 26-3-1975 cùng với Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Đại đội trưởng Đại đội 4 Võ văn Gắt thì tập họp binh sĩ còn lại tuyên bố tan hàng, mạnh ai nấy lo, vì có lệnh “ Các đơn vị tự lực cánh sinh” từ Sư đoàn TQLC qua lời chuyển tiếp của thẩm quyền Đại Dương, Đại úy Đan tùy viên Tư lệnh. Riêng Tiểu đoàn trưởng Đinh Long Thành thì bị kẹt cứng trên chiếc tàu mắc cạn, cùng đủ loại binh sĩ thuộc nhiều đơn vị khác nhau, không còn cấp chỉ huy, và Niên trưởng đã may mắn thoát nạn về tới Sài Gòn trước ngày miền Nam thất thủ.
Cuộc chiến đấu của những người lính Mũ xanh thuộc Lữ đoàn 147 cùng nhiều đơn vị bị bỏ rơi lại tại tuyến đầu, đã bị kết thúc một cách thua thiệt oan uổng ngoài dự đoán của mọi người. Gần 3000 binh lính đủ mọi Binh chủng đã bị trói tay tại mặt trận vào những ngày cuối tháng ba 1975, đã là trang bi kịch đen tối trong chiến sử Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Họ sớm bắt đầu cuộc đời tù đày khi đất nước chưa lọt vào tay giặc.
Cũng tháng ba năm 1971 của 39 năm về trước, vào các ngày 22-23 Lữ đoàn 147 do Đại tá Hoàng Tích Thông chỉ huy đã phải di tản chiến thuật trong cơn Uất hận Hạ Lào. Bằng cuộc hành quân có tên “Lam Sơn 719”, các cấp chỉ huy cao cấp nhất của QLVNCH đã ném toàn bộ binh sĩ thiện chiến nhất của mình vào đất địch tại vùng rừng núi Tchépone hẻo lánh xa xôi, nơi không phải là đất nước mình. Tứ bề thọ địch, hàng ngàn chiến sĩ anh dũng đủ mọi Binh Chủng phải chiến đấu kiên cường trong điều kiện bất lợi hoàn toàn.

Để rồi vào tháng ba năm 1975 cũng chính những chiến sĩ quả cảm Lữ Đoàn 147 được chỉ huy bởi Đại tá Nguyễn Thế Lương thêm một lần thọ nạn, họ cũng bị bức tử từ những cấp chỉ huy cao nhất của mình, bằng một cái lệnh vất bỏ không thương tiếc. Nói theo một chiến hữu Kình Ngư, nhà văn Cao Xuân Huy thì đó là ngày “Tháng ba gãy súng”. Súng của chúng tôi có phải bị bẻ gãy không khi mà vẫn còn có thể tiếp đạn cho chúng tôi chiến đấu! Ngày 26-3 là ngày “Người cày có ruộng”, ngày 26-3 là ngày cả một Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến VNCH bị khoảng một Đại đội du kích Việt Cộng bắt sống. Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra . Hỏi Trời, hỏi đất, hỏi lính, hỏi quan. Hỏi ai đây, trách nhiệm ai đây về chuyện ô nhục nầy của Quân sử!
Súng đã gãy và Tiểu đoàn 4 TQLC, một đơn vị tác chiến hàng đầu của QLVNCH cùng toàn thể những chiến sĩ quả cảm thuộc đủ loại Binh Chủng tại nơi tuyến đầu lửa đạn, cũng đã phải tan hàng theo vận nước nổi trôi. Một cuộc lui binh chưa từng được được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn vị nào đem ra áp dụng bao giờ. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng đem đến sự đại bại thảm hại nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Tự Do.
Quốc hận 30-4-2010
Mũ xanh Phạm văn Tiền F/20